quê người tô hoài

Bọn họ sau này trở về không có mấy ngày Diệp Tu và Tô Mộc Thu muốn đi thi, Buổi sáng Sở Vân Tú và Tô Mộc Tranh yên tĩnh nhìn hai người bọn họ đi thi trường, Yên tĩnh làm cơm trưa, Yên tĩnh nhìn bọn họ ăn xong đi thi buổi chiều trường, Yên tĩnh làm cơm tối, Yên tĩnh Cái hay ở Tô Hoài là những cái lăng nhăng sự đời ấy (chữ của Tản Đà) đã có ít nhiều người ghi lại. Chuyện ông Hai Tây làm xiếc, Bà Bé Tý lên đồng… sách báo đã từng đề cập. ñọc tác phẩm Tô Hoài, người ta thấy hiểu hơn phong vị của nhiều miền quê hương ñất nước. Có những ñiều ngỡ bình thường, nhưng ngẫm nghĩ thật ý vị. Cũng như Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Bằng…, miền quê ấy trong văn Tô Hoài trước tiên không thể thiếu Giới thiệu tác giả, tác phẩm và nhân vật Mỵ, đặc biệt nhấn mạnh nghệ thuật miêu tả tâm lý của Tô Hoài => Đi vào phân tích tâm lý của Mỵ trong đêm cởi trói cho A Phủ. 2. Giới thiệu về A Phủ và sự việc A Phủ bị trói. - A Phủ là một người nông dân nghèo, vì tội Tô Thức (1037 - 1101): tên chữ là Tử Chiêm, hiệu Đông Pha Cư Sĩ. Do có tên thụy là Văn Trung, nên người ta còn gọi ông là Tô Văn Trung. Người My Sơn, My Châu (nay thuộc Tứ Xuyên). Tác phẩm thư pháp nổi tiếng của ông, có Phong lạc đình ký. matriks x berordo 2x2 yang memenuhi persamaan. Trong làng văn học Việt Nam rất hiếm có nhà văn nào nhận được sự yêu thương, mến mộ từ nhiều thế hệ độc giả khác nhau như nhà văn Tô Hoài. Nếu các bạn nhỏ biết đến ông như một người bạn dí dỏm, đáng yêu qua kiệt tác Dế mèn phiêu lưu ký và series truyện ngộ nghĩnh về loài vật, thì độc giả lớn tuổi biết đến ông như một cây đại thụ của làng văn với nhiều tác phẩm đã trở thành những tượng đài bất tử như Vợ chồng A Phủ, Cứu đất cứu mường, Chuyện đầm sen đền Đồng Cổ… Quê Người là cảnh quê hương bị chiếm đóng. Những con người hiền lành chất phác của vùng quê ấy phải sống trong cảnh khốn đốn khi cái nghèo đói bủa vây. Dường như với bất kỳ tác phẩm nào của mình đã xuất bản, nhà văn cũng luôn cẩn trọng đọc lại và chỉnh sửa những chi tiết chưa hài lòng. Như chính lời con trai của Cụ, nhà báo Nguyễn Phương Vũ, chia sẻ “Đã từ lâu từ khi cầm bút bố tôi là người cẩn thận và luôn có trách nhiệm với câu chữ nên mỗi bản in dù là in lại nhưng ông luôn đọc, cắt gọt, chỉnh sửa, “uốn nắn”, tỉ mẩn như người dệt vải. Khi ông trao lại cho tôi để xử lý nhập liệu với một bản thảo chi chít màu mực, chữ, từ, câu mà ông thêm bớt đan xen ngang dọc. Cha tôi là vậy, sự cẩn trọng, kỹ lưỡng trong nghề viết như mối nợ tình với ông.” *** Quê Nhà Nhà văn Tô Hoài đã viết một bộ tiểu thuyết gồm ba tác phẩm tiểu thuyết “Quê người”, tiểu thuyết “Mười năm”, tiểu thuyết “Quê nhà.” Mỗi tiểu thuyết, câu chuyện, hoàn cảnh và nhân vật đều khác nhau, nhưng tất cả được nối tiếp có hệ thống về các sự kiện lịch sử và xã hội của một vùng nhất chuyện về một địa phương, đấy là các làng mạc ở Hà Đông và Sơn Tây, vùng tây bắc thành phố Hà Nội xưa kia, nơi nhà văn Tô Hoài sinh ra và lớn lên. Ở cả ba tiểu thuyết trên đều in dấu vết những nhân vật trong đó có tác giả và gia đình, bè bạn ở sự việc, ở hoàn cảnh, ở những kỷ niệm hồi thơ ấu và đương thời. Bộ ba tiểu thuyết này đã được liệt kê trong danh sách các tác phẩm của Tô Hoài vinh dự được giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học đợt 1 1996. Tiểu thuyết Quê người viết 1941 cũng một khung cảnh ấy, những vùng Hà Nội đã bị chiếm đóng. Cảnh điêu linh và khốn cùng diễn ra, biết bao nhiêu người đã phải tha hương. Đi phu, đi làm đường, vào Nam, sang Tân Đảo và các thuộc địa Pháp ở ngoài châu Đại Dương, làm cu li đồn điền. Trong cảnh khốn đốn, phải đi “đất khách quê người”. Tiểu thuyết Quê người đã được tác giả viết trước nhất, cách đây nửa thế kỷ, từ khi nhà văn Tô Hoài mới bắt đầu cầm bút. Điều đó chứng tỏ đề tài của vấn đề đã nung nấu lâu dài trong tâm tư và tình cảm tác giả theo bước với sự phát triển của số phận cuộc sống và lịch sử. *** Nhà văn Tô Hoài đã viết một bộ tiểu thuyết gồm ba tác phẩm Quê người, Mười năm, Quê nhà. Mỗi tiểu thuyết, câu chuyện, hoàn cảnh và nhân vật đều khác nhau, nhưng tất cả được nối tiếp có hệ thống về các sự kiện lịch sử và xã hội của một vùng nhất định. Câu chuyện về một địa phương, đấy là các làng mạc ở Hà Đông và Sơn Tây, vùng Tây Bắc thành phố Hà Nội xưa kia, nơi nhà văn Tô Hoài sinh ra và lớn lên. Ở cả ba tiểu thuyết trên đều in dấu vết những nhân vật trong đó có tác giả và gia đình, bè bạn ở sự việc, ở hoàn cảnh, ở những kỷ niệm hồi thơ ấu và đương thời. Bộ ba tiểu thuyết này đã được liệt kê trong danh sách các tác phẩm của Tô Hoài vinh dự được giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học đợt 1 1996. Tiểu thuyết Quê nhà viết 1978 nói về sự việc hai lần quân Pháp tấn công chiếm Hà Nội cách nay đã hơn một thế kỷ. Tuy nhiên, những nhân vật lịch sử của các trận đánh Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Hoàng Kế Viêm, Lưu Vĩnh Phúc, các tướng tá Pháp như Phơ răng xi Gácniê, Hăng ri Rivie không phải là các nhân vật chủ yếu. Mà ở đây tác giả đã miêu tả tình hình các phường xóm và làng quê trong thành ngoại nội mà nhân dân - các anh hùng vô danh đã dũng cảm nổi lên chống quân xâm lược như thế nào. Tiểu thuyết Quê người viết 1941 cũng một khung cảnh ấy, những vùng Hà Nội đã bị chiếm đóng. Cảnh điêu linh và khốn cùng diễn ra, biết bao nhiêu người đã phải tha hương. Đi phu, đi làm đường, vào Nam, sang Tân Đảo và các thuộc địa Pháp ở ngoài châu Đại Dương, làm cu li đồn điền. Trong cảnh khốn đốn, phải đi “đất khách quê người”. Tiểu thuyết Quê người đã được tác giả viết trước nhất, cách đây nửa thế kỷ, từ khi nhà văn Tô Hoài mới bắt đầu cầm bút. Điều đó chứng tỏ đề tài của vấn đề đã nung nấu lâu dài trong tâm tư và tình cảm tác giả theo bước với sự phát triển của số phận cuộc sống và lịch sử. Tiểu thuyết Mười năm viết 1957 cũng vẫn quang cảnh và tình hình ở vùng ấy, nhưng bước sang một giai đoạn quyết liệt nhất, mười năm 1935 - 1945. Nước Pháp đã bại trận ngay khi bắt đầu cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ hai. Phát xít Nhật can thiệp vào Đông Dương. Đất nước ta bị hai tròng áp bức và bóc lột, nạn đói vô cùng thảm khốc đã xảy ra mà mỗi con người chỉ còn có con đường một sống một chết. Trong khốn cùng ấy, lá cờ nghĩa đánh Pháp đuổi Nhật cứu nước do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo giương cao đã tung bay khắp nước, từ rừng núi xuống đồng bằng. Tiểu thuyết Mười năm ấy là thời gian mười năm toàn dân chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, tiến tới Cách mạng tháng Tám 1945 thành công. Đến nay, hơn năm mươi năm đã qua, để thấy được nguyên nhân sâu xa những điều tâm huyết của Tô Hoài với một vùng đất ông từng gắn bó. Trải ba mươi năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ ngày nay đương bước vào giai đoạn xây dựng đất nước hùng vĩ chưa bao giờ từng có, xin được in lại trọn bộ cả ba tiểu thuyết Quê nhà, Quê người và Mười năm. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc. *** BẤY GIỜ CẢ BỌN CÓ BỐN NĂM ANH, đều là con trai xóm Duối, ngồi bên một mảnh chiếu rải ở giữa căn nhà Hời, bên gốc cau, chỗ khoáng đãng nhất, để trăng sáng chiếu xuống đầy đủ cho tất cả mọi người. Ai cũng chỉ muốn ngồi chỗ nào mà nhòm được lên mặt trăng. Và cũng bởi có trăng sáng, những anh con trai xóm Duối sau khi dệt đoạn hai cuốn cửi, tuy trời đã khuya, mà vẫn chưa ai buồn đi ngủ. Họ kéo đến sân nhà Hời, ngồi chơi vui, nói chuyện gẫu. Ở đây rộng rãi và thoáng mát. Nhà lại vắng vẻ, chỉ có một mình Hời ở với bà mẹ già; bởi kém mắt, bà cụ có cái lệ bao giờ cũng đi ngủ từ chập tối. Bọn con trai tha hồ ngồi hát xướng và nói những chuyện sở thích nhảm nhí. Ngoài đầu ngõ, mặt trăng mười sáu đã lên tới lưng cây đề. Nó to lừng lững bằng cái mẹt và rực một màu vàng ối. Gió phe phẩy, những lá đề tròn mà dài cuống nhuộm ánh trăng lấp lánh, óng ánh trên nền trời trong. Bầu trời quang, không vương một ngọn mây, trở nên to rộng và bao la vô cùng. Chỉ có một vừng trăng làm chủ. Những ngôi sao long lanh nhất của mọi đêm tối trời, giờ là những vệt sáng mờ. Thoại nằm ngửa trên chiếu, hai bàn tay lót xuống gáy. Chẳng biết tại hứng gì, anh cất giọng, hát mấy câu lý giao duyên - Lý... ý... lý giao duyên, không tiền... ừ... không lý. Anh quẳng... anh quẳng xu vào... vào em lý... lý anh nghe... Giọng anh ông ổng, khàn khàn. Không cảm nổi tai mọi người. Có tiếng phản đối - Thôi im đi, ông cả. Để Hời nó gảy đàn cho mà nghe. Và anh bình phẩm tiếp - Cái giọng gà tồ của thằng này thì cứ để đến tháng tám cho sang làng Thượng hát đối với cô Ế. Cả bọn cười ồ... Thoại không chịu im, và cũng không trả lời bọn anh em chế mình. Chàng lại cao giọng chèo ngâm sầu một câu rằng - Ối thương ôi!... Buồng vàng lạnh ngắt, trận gió từ heo hắt mành tương, khéo sương ấy tuyết tưởng một tường, song phiền não nghĩ càng thêm sắc mắc. Duyên nguyệt lão tơ hường nào đã chắc, bệnh tương tư như dao cắt ruột tằm... ừ ruột tằm. Rồi anh gật gù ra lối hiểu biết - Cu cậu hát cái chỗ Tất Chính tương tư nàng Kiều Liên. - Đây hẳn là cu Thoại tương tư cô Ế? Một nhịp cười nổi lên. Thoại cũng cười, vui vẻ. Chàng lại định hát nữa. Nhưng khi nghe tiếng dạo đàn của Hời, Thoại ta bèn nằm im nhìn lên mặt trăng, lắng tai nghe. Hời đến ngồi bên gốc cau, trên một tảng đá trắng, để được rộng chỗ kê đàn, không vướng ai. Chàng ngồi thẳng, đặt chớm một bàn chân lên mặt đàn và một vế đùi ngả xuôi theo thành đàn. Dây vặn lên ken két. Một tay rút cái que tre cật ở dưới lòng đàn, một tay bắt vào chiếc cần uốn cong xuyên qua một nửa quả bầu lọ, như hình nậm rượu. Chàng dạo thử mấy tiếng lên sợi thép. Tang... tang... tang... tàng... tang... tình... Tay Hời đưa nhẹ thanh thảnh. Chàng vốn là một tay đàn giỏi ở làng Nha. Sở trường nhất của Hời là chơi đàn bầu. Chàng hỏi các anh em - Gì nào? Hành vân chứ? - Ừ, ừ... Hành vân. Theo với bàn tay lướt trên dây và theo với ngón tay buông bắt chiếc vòi đàn, những tiếng thanh, tiếng trầm rồn rập bay ra, Hời tay đàn, miệng hát - Dặm băng ngàn, dặm băng ngàn, nhớ bạn phòng loan, đường non nước, trở bước quan san, lánh mình đưa tiễn bạn, chừ nên quyết, vinh nhành hoa chiếm bảng khôi khoa, họp một nhà giao hòa trâm quạt... Lòng tôi ước... Nằm đằng kia, Thoại cũng lẩm bẩm đánh nhịp - Sự sang hồ, sự sang hồ, xế sang hồ xừ sang, sàng xê cống, xế lưu cống xề, cống xề sang hồ sự... Tiếng đàn và tiếng hát quyện nhau, tỏa ra, vang đi, trong cái thời khắc rất tĩnh mạc của làng xóm. Làng xóm bây giờ ngủ yên cả rồi. Những cung hồ, cung líu trong vắt, bay lửng lơ vào ánh trăng. Những tiếng ú ngắn và rít, những tiếng sang như rền rĩ, phiêu diêu, tản mác trên các mảnh lá mướp, lá đề vàng rượi những trăng. Cái không khí âm nhạc đó bao trùm lấy tất cả, khiến cho người nghe phải ngẩn ngơ. Hời không còn là Hời nữa. Anh ta đã tan ra với tiếng đàn của mình. Chỉ còn có một bàn tay nắn, uốn rất nhẹ chiếc cần tre và một bàn tay chúm lại, chạy thoăn thoắt trên làn dây. Ấy thế là những âm thanh kỳ ảo nẩy ra, chới với, yếu đuối. Giữa bàn tay với một sợi dây thép căng, ngân lên những tiếng vang xưa của linh hồn đất nước cổ sơ. Những tiếng tự nhiên của đất nước rất ẻo lả và não nùng. Bao nhiêu là tiếng sắt, tiếng đồng chen nhau... Mặt trăng đã vượt khỏi ngọn cây đề. Tiếng đàn của Hời như oán, như than, càng vang dài vào trong đêm sâu. Những anh bạn nằm dưới chiếu đều im lặng. Có anh mở thao láo đôi mắt mà nhìn lên vòm trời sáng. Có anh thiu thiu ngủ gà. Có anh đã ngáy o o. Chỉ còn nguyên những tiếng đàn bầu vờn lên. Hời ngừng tay. Thời gian như bị ngắt quãng. Sự tịch mịch đã sẵn có lại càng thêm sâu xuống thăm thẳm. Chàng thở một hơi dài. Chừng như trong khi gẩy đàn chàng đã thở rất ít để cầm lấy hơi, phổ lên những tiếng đồng diễm ảo. Thoại ngóc đầu hỏi - Thôi hả? - Thôi. Khuya rồi. Cả bọn lục tục uể oải trở dậy. Họ vươn vai và ngáp ồn ồn. - Giờ độ mười một giờ chứ mấy? - Độ thế. Trăng mới cao hai ngọn tre. - Các cậu về thôi. Cho tớ đóng cửa đi ngủ. Thoại nhìn Hời, hóm hỉnh - Sang xóm Giếng mà ngủ chứ? - Nhảm. Họ đi ra ngõ và phá ra cười. Tiếng guốc lóc cóc ra đến phía gốc đề mà Hời còn nghe tiếng khúc khích dội lại. Chàng đứng ngẩn một lát, miệng tủm tỉm bâng quơ. Cất chiếu, cất ghế và treo đàn vào trong nhà, rồi chàng vào mặc áo, lấy cái thắt lưng có đựng thẻ thuế thân giắt vào người cẩn thận. Chàng rút trong kẽ ngạch ra một cái gậy tre lớn và chàng ấn thật chặt chốt cánh cửa lại, chứ không khóa. Chàng nghĩ “Nhà rỗng tuếch, việc cóc gì mà phải khóa mấy khiếc. Đứa nào có giỏi ăn trộm, vào khiêng biến ngay bà cụ đi mới là tài”. Trong nhà lẫn với tiếng muỗi vo ve, có tiếng ngáy khò khò của mẹ Hời. Hời yên trí, xách gậy đi ra ngõ. Vừa đi, Hời vừa ngước mắt nhìn trăng. Hời nhếch mép cười với mặt trăng. Cái vừng trăng tròn vành vạnh đó như cũng mủm mỉm với Hời. Dáng hẳn ông trăng cười anh chàng mê gái, đã khuya khoắt như thế, mà còn lầm lũi đi đến nơi hò hẹn. Ô, cái ông trăng phải gió mới hóm hỉnh làm sao. Phía trước mặt, nước sông Lịch óng ánh sáng. Ra đến đầu xóm, tự dưng Hời nghĩ “Giá bây giờ thằng Thoại đi theo, hắn tóm trúng được mình”. Hời bước xuống con đường mòn nhỏ, dọc theo bờ sông. Từ đây sang xóm Giếng hết một chặng đường đi ven sông, tạt vào một ngõ ngoắt, rẽ qua cửa đền Tam Thánh. Hời rảo cẳng. Gậy vác lên vai, chàng đi như người chạy. Nước ở con sông nhỏ sáng ngời những ánh trăng chảy róc rách như thầm thì nói chuyện với ai. Hời dừng lại trước cửa đền Tam Thánh rồi tạt vào trong sân. Bóng chàng lặn vào bóng một cây ngọc lan. Cây ngọc lan già, không biết mọc từ đời nào, mang từng ôm cành lớn và hai ba tán lá rộng như những tán lá bàng. Một mùi hoa thơm ngọt và dịu tản mạn trong không khí. Hời cúi xuống gốc cây, nhặt một gói lá, đem soi ra ngoài ánh trăng. Gói lá trong có đựng hai đóa hoa ngọc lan mà Hời đã ngắt ở trên cây xuống, từ lúc chiều. Hời vứt lá, bỏ hai đóa hoa trắng nõn vào túi. Chàng đi thẳng vào trong xóm. Mọi nhà đã ngủ yên. Qua các rặng cây vườn không có một đốm sáng đèn. Giờ này, những khung cửi đã hết tiếng thoi chạy. Nhưng khung cửi nhà ai thì tắt tiếng thoi đưa, chắc khung cửi nhà cô Ngây hẳn là vẫn hoạt động. Cô Ngây rất chăm chỉ. Thợ cửi nhà cô dệt đoạn được một cuốn thì nghỉ, cô lại vào khêu đèn, dệt nối thêm một cuốn nữa. Đêm nào cũng thế, suốt cả tháng và suốt cả năm. Chỉ nghỉ những đêm phiên là những buổi ngày cô phải đem lĩnh vào chợ tỉnh bán. Đi chợ cả ngày, đêm đến cô không dám dệt cửi khuya, sợ hôm sau sinh ra mệt mỏi. Tuy những đêm ấy không mó vào chiếc thoi, song cô cũng ngồi quay tơ đến tận chín mười giờ mới đi ngủ. Cô tiếc công tiếc việc. Con nhà làm ăn, ngồi chơi không một mảy, cũng đã xót xa thì giờ. Trăng vằng vặc. Thấp thoáng qua những bóng cây xao động. Hời đã nhìn thấy đầu hồi nhà Ngây. Ở cái nhà ấy, trên hai lỗ cửa sổ vuông chỉ bằng hình một viên gạch bát, có ánh sáng đèn hắt ra để cho chàng biết Ngây còn thức dệt cửi. Chàng Hời thấy nao nao trong lòng. Chắc cô ả cũng khá sốt ruột. Rủa mình có hàng tá là ít. Nào ai muốn đến chậm. Nếu có tiện, mình đã tới ngồi bên cửa sổ ngay từ sâm sẩm tối, chứ chẳng dám để ai phải đợi ai. Mời các bạn đón đọc Quê Người của tác giả Tô Hoài. Quê Nhà Nhà văn Tô Hoài đã viết một bộ tiểu thuyết gồm ba tác phẩm tiểu thuyết “Quê người”, tiểu thuyết “Mười năm”, tiểu thuyết “Quê nhà.” Mỗi tiểu thuyết, câu chuyện, hoàn cảnh và nhân vật đều khác nhau, nhưng tất cả được nối tiếp có hệ thống về các sự kiện lịch sử và xã hội của một vùng nhất chuyện về một địa phương, đấy là các làng mạc ở Hà Đông và Sơn Tây, vùng tây bắc thành phố Hà Nội xưa kia, nơi nhà văn Tô Hoài sinh ra và lớn lên. Ở cả ba tiểu thuyết trên đều in dấu vết những nhân vật trong đó có tác giả và gia đình, bè bạn ở sự việc, ở hoàn cảnh, ở những kỷ niệm hồi thơ ấu và đương thời. Bộ ba tiểu thuyết này đã được liệt kê trong danh sách các tác phẩm của Tô Hoài vinh dự được giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học đợt 1 1996. Tiểu thuyết Quê người viết 1941 cũng một khung cảnh ấy, những vùng Hà Nội đã bị chiếm đóng. Cảnh điêu linh và khốn cùng diễn ra, biết bao nhiêu người đã phải tha hương. Đi phu, đi làm đường, vào Nam, sang Tân Đảo và các thuộc địa Pháp ở ngoài châu Đại Dương, làm cu li đồn điền. Trong cảnh khốn đốn, phải đi “đất khách quê người”. Tiểu thuyết Quê người đã được tác giả viết trước nhất, cách đây nửa thế kỷ, từ khi nhà văn Tô Hoài mới bắt đầu cầm bút. Điều đó chứng tỏ đề tài của vấn đề đã nung nấu lâu dài trong tâm tư và tình cảm tác giả theo bước với sự phát triển của số phận cuộc sống và lịch sử. Nhà văn Tô Hoài đã viết một bộ tiểu thuyết gồm ba tác phẩm Quê người, Mười năm, Quê nhà. Mỗi tiểu thuyết, câu chuyện, hoàn cảnh và nhân vật đều khác nhau, nhưng tất cả được nối tiếp có hệ thống về các sự kiện lịch sử và xã hội của một vùng nhất định. Câu chuyện về một địa phương, đấy là các làng mạc ở Hà Đông và Sơn Tây, vùng Tây Bắc thành phố Hà Nội xưa kia, nơi nhà văn Tô Hoài sinh ra và lớn lên. Ở cả ba tiểu thuyết trên đều in dấu vết những nhân vật trong đó có tác giả và gia đình, bè bạn ở sự việc, ở hoàn cảnh, ở những kỷ niệm hồi thơ ấu và đương thời. Bộ ba tiểu thuyết này đã được liệt kê trong danh sách các tác phẩm của Tô Hoài vinh dự được giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học đợt 1 1996. Tiểu thuyết Quê nhà viết 1978 nói về sự việc hai lần quân Pháp tấn công chiếm Hà Nội cách nay đã hơn một thế kỷ. Tuy nhiên, những nhân vật lịch sử của các trận đánh Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Hoàng Kế Viêm, Lưu Vĩnh Phúc, các tướng tá Pháp như Phơ răng xi Gácniê, Hăng ri Rivie không phải là các nhân vật chủ yếu. Mà ở đây tác giả đã miêu tả tình hình các phường xóm và làng quê trong thành ngoại nội mà nhân dân – các anh hùng vô danh đã dũng cảm nổi lên chống quân xâm lược như thế nào. Tiểu thuyết Quê người viết 1941 cũng một khung cảnh ấy, những vùng Hà Nội đã bị chiếm đóng. Cảnh điêu linh và khốn cùng diễn ra, biết bao nhiêu người đã phải tha hương. Đi phu, đi làm đường, vào Nam, sang Tân Đảo và các thuộc địa Pháp ở ngoài châu Đại Dương, làm cu li đồn điền. Trong cảnh khốn đốn, phải đi “đất khách quê người”. Tiểu thuyết Quê người đã được tác giả viết trước nhất, cách đây nửa thế kỷ, từ khi nhà văn Tô Hoài mới bắt đầu cầm bút. Điều đó chứng tỏ đề tài của vấn đề đã nung nấu lâu dài trong tâm tư và tình cảm tác giả theo bước với sự phát triển của số phận cuộc sống và lịch sử. Tiểu thuyết Mười năm viết 1957 cũng vẫn quang cảnh và tình hình ở vùng ấy, nhưng bước sang một giai đoạn quyết liệt nhất, mười năm 1935 – 1945. Nước Pháp đã bại trận ngay khi bắt đầu cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ hai. Phát xít Nhật can thiệp vào Đông Dương. Đất nước ta bị hai tròng áp bức và bóc lột, nạn đói vô cùng thảm khốc đã xảy ra mà mỗi con người chỉ còn có con đường một sống một chết. Trong khốn cùng ấy, lá cờ nghĩa đánh Pháp đuổi Nhật cứu nước do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo giương cao đã tung bay khắp nước, từ rừng núi xuống đồng bằng. Tiểu thuyết Mười năm ấy là thời gian mười năm toàn dân chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, tiến tới Cách mạng tháng Tám 1945 thành công. Đến nay, hơn năm mươi năm đã qua, để thấy được nguyên nhân sâu xa những điều tâm huyết của Tô Hoài với một vùng đất ông từng gắn bó. Trải ba mươi năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ ngày nay đương bước vào giai đoạn xây dựng đất nước hùng vĩ chưa bao giờ từng có, xin được in lại trọn bộ cả ba tiểu thuyết Quê nhà, Quê người và Mười năm. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc. Quê Người Tô Hoài Ở Quê Người, đó là vùng Bưởi - ngoại ô nghèo trước Cách mạng tháng Tám. Ngòi bút hiện thực của Tô Hoài xây dựng khung cảnh tiêu điều, tàn lụi của làng Hạ. Những nông dân cần cù, cam chịu, sống nhẫn nhục trong nghèo khó, ước mơ khát khao an bình chỉ như ánh đèn leo lét trong gió. Văn phong của ông gợi nhớ bầu không khí ảm đạm như những tác phẩm hiện thực của Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan. Nhưng giữa cảnh nghèo chồng chất ấy, Tô Hoài vẫn thấy ở họ nét hóm hỉnh, duyên dáng, các câu chuyện nên thơ tình tứ. "Quê Người của Tô Hoài còn cho ta thấy biết bao cái giản dị và nên thơ của người dân quê Việt Nam – những người tuy phác thực mà rất mơ màng họ vốn là tác giả những câu ca dao bất hủ. Hãy xem cái cách hẹn hò của cặp tình nhân Hời và Ngây, cách hẹn hò ý nhị của Tristan cùng Iseut. Đông Tây có lẽ gặp nhau ở chỗ này.” - Nhà nghiên cứu VŨ NGỌC PHAN Nhà văn Tô Hoài 1920-2014 tên thật là Nguyễn Sen. Sinh ngày 27 tháng 9 năm 1920 tại Nghĩa Đô, Từ Liêm, Hà Nội. Ông tham gia cách mạng từ trước 1945 trong Hội Ái hữu Công nhân, Hội Văn hóa Cứu quốc. Ông từng làm phóng viên rồi làm Chủ nhiệm báo Cứu quốc Việt Bắc. Năm 1957-1958 ông làm Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam, sau đó làm Phó Tổng Thư ký trong nhiều năm. Từ 1986-1996 ông làm Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội. Ông viết hơn trăm tác phẩm với nhiều thể loại khác nhau bút ký, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim, chân dung, tiểu luận… Tác phẩm được nhiều thế hệ độc giả yêu thích nhất là tập truyện thiếu nhi Dế Mèn phiêu lưu ký. Ông mất ngày 6 tháng 7 năm 2014 tại Hà Nội. - Nhà sách online giá tốt, tiết kiệm, giao hàng nhanh. Đầy đủ sách mới. Có cả sách hiếm, khó tìm. Đóng gói cẩn thận. Thường xuyên giảm giá. Miễn phí vận chuyển 250k. Thông tin sách Tên sách QUÊ NGƯỜI Tác giả Tô Hoài Nhà phát hành Phương Nam Nhà xuất bản NXB Hội Nhà Văn Khối lượng 220g Kích thước 13 x 21 cm Ngày phát hành 03/2007 Số trang 228 Giá bìa Thể loại Tiểu thuyết Hiện thực Thông tin ebook Nguồn Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Type+Làm ebook thanhbt Ngày hoàn thành 31/08/2016 Dự án ebook 229 thuộc Tủ sách BOOKBT​ Giới thiệu Nhà văn Tô Hoài đã viết một bộ tiểu thuyết gồm ba tác phẩm tiểu thuyết “Quê người”, tiểu thuyết “Mười năm”, tiểu thuyết “Quê nhà.” Mỗi tiểu thuyết, câu chuyện, hoàn cảnh và nhân vật đều khác nhau, nhưng tất cả được nối tiếp có hệ thống về các sự kiện lịch sử và xã hội của một vùng nhất chuyện về một địa phương, đấy là các làng mạc ở Hà Đông và Sơn Tây, vùng tây bắc thành phố Hà Nội xưa kia, nơi nhà văn Tô Hoài sinh ra và lớn lên. Ở cả ba tiểu thuyết trên đều in dấu vết những nhân vật trong đó có tác giả và gia đình, bè bạn ở sự việc, ở hoàn cảnh, ở những kỷ niệm hồi thơ ấu và đương thời. Bộ ba tiểu thuyết này đã được liệt kê trong danh sách các tác phẩm của Tô Hoài vinh dự được giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học đợt 1 1996. Tiểu thuyết Quê người viết 1941 cũng một khung cảnh ấy, những vùng Hà Nội đã bị chiếm đóng. Cảnh điêu linh và khốn cùng diễn ra, biết bao nhiêu người đã phải tha hương. Đi phu, đi làm đường, vào Nam, sang Tân Đảo và các thuộc địa Pháp ở ngoài châu Đại Dương, làm cu li đồn điền. Trong cảnh khốn đốn, phải đi “đất khách quê người”. Tiểu thuyết Quê người đã được tác giả viết trước nhất, cách đây nửa thế kỷ, từ khi nhà văn Tô Hoài mới bắt đầu cầm bút. Điều đó chứng tỏ đề tài của vấn đề đã nung nấu lâu dài trong tâm tư và tình cảm tác giả theo bước với sự phát triển của số phận cuộc sống và lịch sử. Các file đính kèm Thay bìa này đi bác thanhbt Không biết do nhà xuất bản biên tập lại hay lí do khác mà bản này có nhiều chỗ bị sửa những từ ngữ đặc sắc của tác giả. Ví dụ "Ông Nhiêu vào hạng cừ rượu trong làng". Trước đây tôi được đọc là 'dừ rượu' Theo tôi thì bản in nào ta chọn đúng bìa đó cho khỏi nhầm lẫn, nếu không có mới phải thay thế bìa bản in khác; theo như bác quang3456 nói ở trên, những bản in khác nhau lại bị biên tập, sửa đổi khác nhau một chút. Biết cái nào là đúng nhỉ? Chỉ có cách hỏi cụ Tô. Sent from Oneplus One Đi đâu hỏi bây giờ, chắc là ra Đông Tác? Đọc chuyện thì biết, Ông Nhiêu không thể gọi là cừ rượu trong làng được. Trích 1 đoạn "Ông Nhiêu vẫn uống rượu. Ông uống cạn già nửa chai hai cút rồi... Rượu đã ngấm đến cực độ, khiến ông không thể cất nổi đầu nữa. Ông chúi xuống, bò đi kềnh càng như một con cua. Ông khua hai tay, rồi khuỵu hẳn xuống. Thế là ông kêu lên rền rền “Gậy của tôi đâu?... Đánh bỏ mẹ nó đi!... Tôi có say đâu!...” Tự nhiên, ông cong cổ lên, hoác miệng ra mà nôn thốc một hồi. Cơm rượu phòi từng đống." Thế này so với Chí Phèo thì còn kém xa. anphan and 123phat like this. Thế thì chỉ xóa một chữ đi thôi, sửa lại có tí. Lỗi kỹ thuật. ˋ﹏ˊ Sent from Oneplus One Đấy chỉ là 1 ví dụ thôi, còn nhiều chữ khác nữa. Nhà văn Tô Hoài nổi tiếng về sáng tạo từ ngữ, cũng như nhà văn Nguyễn Tuân. Nếu người biên tập đọc không quen tai sẽ sửa thành các từ thông dụng, có khi cũng vẫn đúng nhưng mất đi màu sắc văn TH. Một VD khác, tôi nhớ đã đọc là bà Ba 'xang xác mồm', trong sách này thì là 'quang quác' Đang qua topic Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link hóng lại bản 1952 xem có phải "dừ rượu" không, hê hê. Bản in đó là "rừ rượu", cũng là biến âm của "dừ rượu", theo ngữ cảnh có nghĩa là "nát rượu", "nghiện rượu" chứ không phải "uống rượu giỏi". 'Dừ' chứ chứ ai lại 'rừ'. Dừ người vì rượu. Bọn mình vẫn bảo nhau thế, ở năm 2016 Sent from Oneplus One Bản in cuốn Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX do NXB Văn học liên kết với Nhà sách Minh Lâm 2014 có 500 trang nội dung nhưng lỗi thì nhiều không kể xiết, gồm cả lỗi morasse nhan nhản hầu như trang nào cũng có và lỗi nội dung khiến bạn đọc hiểu sai nội hàm ý nghĩa tác giả viết. • Phan Thanh Giản khuyên… quan tài ? Những lỗi sai morasse sơ đẳng nhất có ở tên các địa danh và nhân vật rất quen thuộc như Đà Nẵng thành Đà Năng, Võ Tánh thành Võ Tránh, Chương Mỹ Hà Đông thành Chứng Mỹ. Thậm chí, Nguyễn Huệ tức vua Quang Trung cũng sai thành Nguyên Huệ trang 386, Tôn Đản sai thành Tôn Đàn trang 184, Nùng Tồn Phúc sai thành Nùng Tồn Phú trang 186... Còn những lỗi khiến bạn đọc hiểu sai nội hàm ý nghĩa có thể kể như việc Địch Thanh là tướng nhà Tống năm 1053 đến Tân Châu để hội chư quân thì viết sai, đẩy thời gian lùi gần 500 năm sau thành năm 1503 trang 183; việc vua Louis XVI ký với giám mục Bá Đa Lộc bản Hiệp ước Versailles năm 1787 cũng sai thành năm 1887 trang 403… Đặc biệt, khi quân Pháp đánh Nam kỳ, có đoạn viết “Thấy thế không chống nổi, Phan Thanh Giản khuyên quan tài ba tỉnh nên nộp thành trì cho giặc” trang 461. Trong Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa Quan tài, còn gọi là áo quan, là hòm bằng gỗ đựng thi thể người chết. Viết đúng phải là Phan Thanh Giản khuyên “quan lại” ba tỉnh nên nộp thành cho Pháp. • Nhà Trần “lộn tông” Cuốn Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX, trong bản in năm 2016 do NXB Khoa học Xã hội liên kết với Nhà sách Anh Khoa, tuy số lỗi morasse ít hơn nhưng việc biên tập vẫn là điều đáng bàn tới vì lỗi sai vẫn nghiêm trọng, trong khi NXB Khoa học Xã hội là đơn vị xuất bản đúng chuyên ngành. Nhà Trần vốn đã bị sử sách đánh giá là loạn luân khi anh em cận huyết lấy nhau để giữ ngôi. Nay đọc sách thì thấy trang 247 viết “Trần Ích Tắc là em ruột Trần Khoán”. Sang trang sau ghi “Em Trần Khâm là Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc”. Cũng trang 248 này viết Trần Khâm phải sai người đem em ruột là An Tư công chúa để hiến cho Thoát Hoan để mong hoãn binh”. Trần Khoán là ai thì chúng tôi chưa rõ, chắc phải đợi NXB Khoa học Xã hội lý giải giúp cho. Còn Trần Khâm là tên húy của vua Trần Nhân Tông 1258 - 1308. Mà so sánh trong phả hệ tôn thất nhà Trần thì vua Trần Nhân Tông phải gọi Trần Ích Tắc bằng chú và gọi An Tư công chúa bằng cô, làm sao có chuyện hai vị đó lại là em của Trần Khâm được? Họ chỉ có thể là em của thượng hoàng Trần Thánh Tông mà thôi… Bác này cẩn thận quá. Đúng rồi, 'rừ', 'dừ' hay 'nhừ' cũng giống như nát. Người ta thường nói là 'nát rượu' nhưng cụ TH lại viết là 'rừ rượu', thế mới là văn của TH. Đào mộ Vì thấy lời tựa có phần sai so với thực tế hoàn cảnh lúc đó "..Tiểu thuyết Quê người viết 1941 cũng một khung cảnh ấy, những vùng Hà Nội đã bị chiếm đóng. Cảnh điêu linh và khốn cùng diễn ra, biết bao nhiêu người đã phải tha hương. Đi phu, đi làm đường, vào Nam, sang Tân Đảo và các thuộc địa Pháp ở ngoài châu Đại Dương, làm cu li đồn điền.." Vùng Nghĩa Đô là ngoại thành Hanoi khi đó nên ko thuộc vùng nhượng địa tức Nội Thành Hanoi, xã hội hoàn toàn thuộc phong kiến, thậm chí vận hành kiểu làng xã. Cảnh khốn khó ở đây trong tác phẩm là xã hội nói chung thời đó do phong kiến lạc hậu không liên quan gì đến việc người Pháp thực dân là mấy. Trái lại, nội thành Hà Nội người Pháp cai quản rất quy củ, văn minh hơn nhiều, tham khảo thêm hồi ký cụ Nguyễn Hiến Lê. Đi phu là do nghèo khó, làm nông không đủ sống và nhiều lý do khác, thực tế dù khổ nhưng việc làm thuê đều được người Pháp trả lương. Để hiểu rõ hơn các bạn xem phóng sự Người Việt ở Tân Đảo do trung tâm Vân Sơn thực hiện. Phóng sự có một chú nói, lúc đo tâm lý nói chung người Pháp coi họ là người cai trị nên dù làm thuê nhưng họ quản người làm rất khắt khe và tàn nhẫn, có thể so sánh với tâm lý của người nô lệ da màu ở Mỹ và chủ nô da trắng ví dụ trong phim 12 Years Slave. Lời tựa trên rất không logic khi ghép các sự kiện chả liên quan gì từ việc khốn khó của đời sống phong kiến vào việc tha hương, làm thuê, đi phu ví như sự đi xuống từng nấc thang, ko khách quan thậm chí gán ghép hệ quả vào truyện. Theo tôi để hiểu lịch sử không phải dễ. Trong văn học các sự kiện tâm lý nhân vật có thể dễ tạo sự đồng cảm ở người đọc nhưng nếu quá thiên vị sẽ mất đi cái ý nghĩa chân thực. Đôi lời nhận xét khách quan với lời tựa trên của truyện này. Đây là tác phẩm, đơn giản là, theo cụ Nguyễn Hiến Lê nhận xét là rất chân thực về đời sống người dân thôn quê Việt thời đó cả tốt xấu hỉ nộ ái ố, nhưng không bị tô quá nhiều màu đen phóng đại hơi quá so với thực tế về sự khốn khổ của dân chúng như Tắt Đèn của cụ Ngô Tất Tô hay Chí Phèo của cụ Nam Cao. Nhiều bạn đọc bị ám ảnh do việc học văn thời xã nghĩa, bị bắt phân tích kiểu văn mẫu đóng khuôn là xã hội khốn kho do phong kiến,thực dân nọ kia nên dễ bị thiên hướng gán ghép sai nội dung, kiểu như lời tựa trên. Cuối cùng, một tác phẩm rất đáng đọc để hiểu hơn đời sống của các cụ thời xưa. chumeo_di_hia thích bài này. Cảm ơn các bác, văn người ta thế nào thì nên để nguyên như vậy, không nên sửa chữa dù chỉ 1 từ, nhất là những từ nhà văn cố tình dùng câu chữ như vậy. Có chăng sữa lỗi sai chính tả thôi. Vậy em bỏ qua bản này để tìm bản chuẩn hơn vậy. Cảm ơn bác chủ thớt dành thời gian đóng gói ebook cho người yêu văn nhé. Ừ, chúc bạn may mắn lần sau nhé! chumeo_di_hia thích bài này. Cuốn này là phần 2 của cuốn quê nhà thì phải chumeo_di_hia thích bài này. Em ko rõ lắm, hì hì Là phần 2 nhưng được viết trước. Tôi thấy tập này hay nhất, có thể xếp vào loại phong tục tiểu thuyết. Còn 2 tập kia tác giả viết thêm và viết sau năm 54, phong cách lúc đó khác rồi. Chia sẻ trang này

quê người tô hoài